Posts tagged as:

Chè

Bubur Cha Cha

09/07/2011    Gửi cho bạn bè Gửi cho bạn bè            In bài này In bài này

Bubur Cha Cha, món tráng miệng được biết đến với cái tên Bo Bo Cha Cha tại Việt Nam. Thử tìm hiểu nguồn gốc của món tráng miệng mát lành này xem nó có xuất xứ từ đâu?

Bubur Cha Cha là món tráng miệng của người Nyonya hay còn gọi là Peranakan. Trong tiếng Mã Lai, từ “Peranakan” có nghĩa là “con cháu”, nhằm chỉ những người là con cháu của lớp dân di cư sớm đến vùng thuộc địa Straits Settlements trước đây gồm 3 vùng là Singapore, Malacca và Penang và kết hôn với những người phụ nữa địa phương. “Peranakan” theo tiếng Malaysia còn có nghĩa là người lai, và đồng thời cũng diễn tả chính xác thế hệ con cháu được sinh ra từ những cuộc kết hôn chéo giữa những người Hoa nhập cư đến Singapore từ thế kỷ 16 và phụ nữ Malaysia. Nhóm cộng đồng này còn được gọi là những người Baba hoặc Nonya – Tên gọi xuất phát từ tiếng Peranakan. Baba có nghĩa là Nam giới và Nonya có nghĩa là Nữ giới. Ngôn ngữ chính của nhóm người này là tiếng lai Hoa-Mã Lai.

Cuộc hôn nhân độc đáo giữa hai nền văn hóa này dẫn đến sự kết hợp, giao thoa giữa món ăn Trung Quốc và Malaysia. Ở Malaysia, những món ăn này gọi là Nyonya food.
Món ăn Nyonya khác biệt với món ăn Trung Hoa và Malaysia ở chỗ nó bao gồm các thành phần truyền thống của Trung hoa kết hợp với các gia vị và lá thơm Malaysia. Món ăn Nyonya ở Miền Nam và miền Bắc cũng khác nhau: ở miền Nam ảnh hưởng bởi hương vị Indonesia nên các món ăn có xu hướng hơi ngọt vì được bổ sung nước cốt dừa và nhiều gia vị truyền thống của Malaysia hơn trong khi các món ăn miền Bắc đặc biệt là Penang cũng có ảnh hướng ít nhiều từ nước láng giềng Thái Lan nên thơm và chua hơn bằng cách sử dụng thêm me quả và xoài xanh.

Ẩm thực Nyonya cũng nổi tiếng với các món Kuih theo tiếng Malaysia nghĩa là món tráng miệng (bao gồm cake và dessert). Món tráng miệng Nyonya rất phong phú và đa dạng. Các nguyên liệu được sử dụng để làm các món tráng miệng gồm khoai lang, khoai môn, gạo nếp, đường thốt nốt, bột báng/bột đao, thạch agar, nước cốt dừa, các loại đậu và lá dứa/cơm nếp/pandan, trái Vanilla….

Trở lại với món chè Bubur Cha Cha, món tráng miệng rất phổ biến ở cả Malaysia và Singapore. Nguyên liệu chính để nấu Bubur Cha Cha gồm có Khoai lang, khoai sọ/khoai môn/taro, nước cốt dừa, trân châu (bột năng/bột đao) và lá dứa/cơm nếp/pandan. Để bát chè trông đẹp mắt, nên sử dụng 3 loại khoai lang với 3 màu (gọi theo màu ruột khoai) khác nhau. Gợi ý của Kiwi là khoai nghệ, khoai trắng và khoai tím. Vào mùa đông, có thể dễ dàng mua được nhiều loại khoai lang hơn mùa hè, thậm chí là cả khoai tím (purple sweet potato). Kiwi không mua được nhiều khoai nên dùng hết khoai lang vàng. Phần khoai môn có thể thay thế bằng khoai sọ tùy theo mùa. Hạt chân trâu theo như các công thức của Singapore hay Malaysia sử dụng hạt trân trâu khô (còn gọi là Sago), tuy nhiên cũng có thể dùng trân châu tự làm bằng bột năng/bột đao nếu thích. Để tạo vị cho Bubur Cha Cha, dùng đường thốt nốt thay cho đường trắng thông thường. Đường thốt nốt vị ngọt tự nhiên, mùi thơm đặc biệt và cho màu cánh gián vàng óng. Nên sử dụng đúng đường thốt nốt cho món chè này, trường hợp không có đường thốt nốt có thể thay bằng đường vàng nhưng khi đó vị ngon của chè ít nhiều sẽ bị giảm bớt.
[Xem tiếp …]

{ 4 comments }

Coconut milk with Sago & Kiwi fruit

28/06/2011    Gửi cho bạn bè Gửi cho bạn bè            In bài này In bài này

“Coconut milk with Sago & Kiwi fruit” gọi dân dã là Chè Kiwi:  mát bổ và rất dễ làm. Trước khi kết thúc một tuần “thi thố” vui vui, công thức và cách làm đã được post tại đây.

Công thức

Chè Kiwi mát bổ

Nguyên liệu:

3 quả Kiwi ZESPRI™ xanh, 3 quả Kiwi ZESPRI™ vàng
500g nước
150g đường
100g nước cốt dừa
70g hạt trân trâu khô
2 thìa cà phê hạt é

Cách làm:
Hạt trân châu ngâm 5 tiếng cho mềm. Để ráo nước. Bắc nồi nước đun trên bếp, khi sôi đổ trân châu vào, đun lửa vừa đến khi trân châu nổi lên là chín. Vớt ra thả vào bát nước lọc.
Kiwi xanh vàng gọt vỏ, cắt làm 8 miếng
Cho đường, nước vào nồi, bắc lên bếp đun sôi thành sirô đường, để nguội.
Hạt é ngâm với nước cho nở.
Cho sirô đường vào cốc, thêm ZESPRI™, hạt trân châu, hạt é.
Đổ nước cốt dừa lên trên, trang trí với lát Kiwi ZESPRI™ tươi.
Dùng lạnh (có thể ướp lạnh các nguyên liệu hoặc dùng kèm với đá bào)

{ 0 comments }

Kỳ nghỉ đầu tháng 6, tôi có ở Sài Gòn mấy hôm để kết hợp tham gia khóa học huấn luyện nghiệp vụ định kỳ. Vì đi cùng gia đình, lại bận thêm việc học hành nên nhiều bạn bè trách móc sao không liên lạc. Nhân đây thành thật xin lỗi các bạn vì quả thật Kiwi không thể thu xếp được thơì gian. Hết giờ học lại vướng con nhỏ, thế nên lần này lại đành lỗi hẹn với các bạn trong đó.
Có mòn quà tạ lỗi với các bạn ở “trỏng” đây ạ: BIJI SALAK – chè thốt nốt khoai lang.

BIJI SALAK là một món tráng miệng ngọt của Indonesia. Món tráng miệng này sử dụng đường từ cây thốt nốt (palm sugar). Đường thốt nốt với ngoài Bắc vẫn còn xa lạ lắm. Trước đây, tôi mới chỉ biết tên chứ cũng chưa hình dung ra nó thế nào. Đấy là mang tiếng có mấy năm làm người Thành phố rồi đấy. Nghe mọi người khen nấu chè với đường thốt nốt thơm lắm, đến khi mình làm thật mới biết quả thật là ngọt thế nào và thơm ra sao :)

Thốt nốt gắn chặt với đời sống người Khmer như cây dừa với người Kinh. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, nó vừa là biểu tượng của dân tộc Khmer, vừa là nguồn lợi kinh tế đáng kể. Đường thốt nốt ngon lại thông dụng như mía.

Thốt nốt tựa cây dừa. Thân to thẳng đứng, chịu đất giồng (đất sét pha cát). Bẹ có gai ngắn hai bên, mọc ra từ thân. Lá xòe tròn như bàn tay. Toàn thân như cây nấm chưa nở, trái đóng thành quày như quày dừa, nhỏ hơn đôi chút. Mỗi trái có 3-6 múi, ruột nhỏ như ruột dừa nước, ăn vui miệng. Rễ cắm sâu vào lòng đất, chống chịu gió bão rất hữu hiệu. Tuổi thọ thốt nốt rất cao, hàng trăm năm vẫn còn cho trái.

Trái thốt nốt chỉ bán cho người mua ăn chơi, hoặc uống giải khát, chẳng được bao nhiêu tiền. Thắng đường mới thật sự khai thác hết giá trị của nó. Muốn có đường thì lấy nước, không để trái. Lấy nước không khó, chỉ tốn công. Một lao động có thể quán xuyến chục cây. Khi thốt nốt vừa ra lưỡi mèo, việc đầu tiên là tìm một cây tre gai, cao cỡ ngọn cây định lấy nước, róc chừa nhánh ngắn đóng chặt vào thân thốt nốt làm thang để leo lên leo xuống hằng ngày. Kế đến, leo lên ngọn, dùng dao róc hết gai ở bẹ, tránh cọ quẹt lúc làm việc. Gai đâm rất độc, nên phải hết sức thận trọng. Lưỡi mèo ra dài, mình nổi u do có trái nhỏ bên trong. Để lấy được nhiều nước, trước khi cắt mạch, phải dùng kẹp (hai miếng tre cột dính một đầu) kẹp từ trong lưỡi mèo kẹp dần ra, tước bổ vỏ ngoài. Kẹp đúng 7 ngày (mỗi ngày một lần) mới cắt mạch. Mạch cắt mỏng như giấy quyến chót lưỡi mèo, rồi máng ống tre vào hứng nước (như hứng nhựa cao su). Nước ra ít thì cắt tiếp, mỗi ngày một lần. Ống tre chuyên dùng này là loại tre gai, giao lóng, ống to, cắt một đầu trống, khoét hai lỗ nhỏ để cột dây trên miệng ống, máng lên lưỡi mèo khi hứng nước. Muốn nước không chua, ống phải được hun khói. Người ta đắp cái lò đất có sườn sắt và nhiều lỗ để úp ống tre vào, đốt lửa hun khói. Ống thật khô không còn mùi hôi, đem hứng nước mới trong và ngon. Nước lấy xuống uống ngay ngon tuyệt.

Lấy nước xong, trong vòng 24 giờ phải thắng đường, để lâu hơn sẽ bị chua. Ở Tri Tôn (Châu Đốc) người ta đắp lò đất, đặt chảo to (chảo lá sen) đổ nước thốt nốt vào nấu. Nấu mãi đến khi dùng vá múc đường đổ xuống, nước kéo dây dính liền là tới đường. Đổ vào khuôn bằng ống tre, vài giờ sau đường đặc quánh. Trút ra, cắt khoanh, dùng lá thốt nốt gói bên ngoài như gói bánh tét. Đường màu trắng xanh là ngon nhất, để lâu được, màu vàng là đường cũ, bị lọt gió, mau chảy, không thể để lâu. Tuy nhiên, đường nào cũng ngọt dịu, thơm ngon. Vào mùa thu hoạch (tháng 9 đến tháng 4 âm lịch), ánh lửa thắng đường bập bùng quanh sóc suốt đêm trông rất vui mắt.

(Theo VnExpress.net)

Ở Việt Nam, đường thốt nốt được sử dụng nhiều để nấu chè, hoặc kho thịt cá. Còn ở Singapore, Indonesia hay Malaysia, đường thốt nốt được dùng để nấu các món chè ngon tuyệt mà đại diện là món chè Bubur Cha Cha nức tiếng. Bếp Kiwi hôm nay chưa có Bubur Cha Cha vì chưa mua được đủ loại khoai cần thiết, thế vào đó là món chè BIJI SALAK đơn giản nhưng cũng không kém phần ngon miệng.
[Xem tiếp …]

{ 12 comments }

</